|
Xu thế phát triển của Công nghệ Tự động hóa thế giới và cơ hội, thách thức đối với Việt Nam
(thời điểm đăng tin : thứ tư, 10/12/2008)
 Tự động hóa (TĐH) đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và của xã hội. Chính vì thế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đây là một lĩnh vực công nghệ cần ưu tiên phát triển
Xu thế phát triển của công nghệ TĐH trên thế giới đang mở ra cho lĩnh vực TĐH của nước ta nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi chúng ta phải có những giải pháp hữu hiệu cả ở tầm vĩ mô và vi mô. PGS.TSKH. Phạm Thượng Cát (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã có bài viết về vấn đề này trên Tạp chí Hoạt động khoa học Sự phát triển của công nghệ TĐH thời gian qua không tách rời sự phát triển của các công nghệ cao khác như công nghệ thông tin (CNTT), công nghệ truyền thông và cơ điện tử. Các thành tựu của chip vi xử lý, mạng và truyền thông được áp dụng rộng rãi trong các sản phẩm và hệ thống TĐH. Ngược lại, nhiều nguyên lý của điều khiển tự động được ứng dụng trong các sản phẩm CNTT. Các sản phẩm công nghệ cao ngày càng thông minh hơn và được thiết kế tích hợp tối ưu cả phần xác (phần cứng - cơ khí, linh kiện…) và phần hồn (phần mềm - software, thuật toán…) trên quan điểm cơ điện tử. Xu hướng này tạo nên các sản phẩm tích hợp trong nó nhiều chức năng của nhiều lĩnh vực công nghệ. Sự hội tụ các công nghệ trong một sản phẩm làm ranh giới giữa CNTT và truyền thông, công nghệ TĐH và cơ điện tử ngày càng thu hẹp. Sự phát triển của công nghệ tự động hóa nói riêng và của các công nghệ cao thời gian qua nói chung bị chi phối bởi 3 định luật sau:Định luật Moore: Được Golden Moore đưa ra năm 1970. Theo ông, khả năng xử lý của chip tăng gấp đôi sau 18 tháng. Như vậy, máy tính sẽ nhanh hơn và rẻ đi một nửa theo chu kỳ18 tháng. Định luật Moore được dự đoán có giá trị đến năm 2017 khi kích thước của bóng bán dẫn tiếp cận đến kích thước của nguyên tử. Tuy nhiên, sự ra đời của chip 3D và bóng bán dẫn spin (single-atom and spin transistor) sẽ tiếp tục duy trì Định luật Moore thêm khoảng 20 năm nữa. Định luật Gilder: Do Gorge Gilder đưa ra ước tính băng thông của các hệ truyền thông tăng gấp 3 lần trong vòng 12 tháng. Sự phát triển của lĩnh vực truyền thông thời gian qua đã minh chứng định luật này.Định luật Metcalfe: Được Robert Metcalfe - người phát minh ra mạng Ethernet đưa ra. Theo định luật này, giá trị của mạng tỷ lệ với bình phương của số nút kết nối trong mạng. Như vậy, mạng càng lớn thì giá trị và hiệu quả sử dụng càng cao, trong khi giá thành kết nối của một nút không thay đổi (thậm chí còn giảm). Xu hướng phát triển của công nghệ TĐH giai đoạn tới trên thế giớiThế kỷ XX đã xuất hiện một số công nghệ tạo nên những đợt sóng tăng trưởng mạnh trong lĩnh vực TĐH, bao gồm: Công nghệ PLC (Programmable Logic Controller), công nghệ điều khiển phân tán DCS (Distributed Control System), các hệ SCADA (Supervisory Control and Data Acquisition System), phần mềm tự động hóa.Trong giai đoạn phát triển của công nghệ TĐH, không đơn thuần là cải tiến các xu hướng cũ như chế tạo các PLC, DCS, SCADA nhỏ và rẻ hơn, hoặc tích hợp những chức năng của các hệ này vào phần cứng và mềm của sản phẩm, mà sẽ là các hướng công nghệ mới như công nghệ nanô, mạng không dây và hệ tự thích nghi phức hợp. Tuy nhiên, nhìn toàn cục có một số hướng công nghệ sẽ có sự tăng trưởng đáng kể vào những năm tới như sau: Mạng công nghiệp không dâyKết nối không dây sẽ nhanh chóng trở thành kết cấu hạ tầng cơ sở cho kết nối mọi người, mọi vật vào mạng Internet. Thế hệ đầu của mạng không dây còn ở công nghệ tương tự. Thế hệ 2 đã chuyển sang công nghệ số và thế hệ 3 đang tới là công nghệ kết nối không dây tốc độ cao. Với công nghệ không dây thế hệ 3, hầu như mọi điểm thiết bị vào/ra (I/O) có thể được kết nối dễ dàng, hiệu quả và kinh tế, tạo nền tảng cho sự ra đời của các hệ điều khiển tự thích nghi. Tuy nhiên, còn nhiều lo ngại về tính bảo mật của các mạng không dây. Với các công nghệ mã hóa hiện đại đang được sử dụng trong các hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán và nhiều hệ thống quân sự thì việc đưa các công nghệ mã hóa này vào mạng công nghiệp kết nối không dây sẽ không còn đáng ngại. Mạng không dây sẽ tạo nên sự tăng trưởng của thị trường TĐH, đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt. Mặc dù các chuẩn không dây còn lộn xộn nhưng sự phát triển của mạng không dây vẫn được duy trì. Các mạng không dây công nghiệp sẽ nhanh chóng được tích hợp vào các mạng văn phòng không dây như WiFi, Wimax và các mạng băng rộng của CNTT. CISCO là người khổng lồ của công nghệ mạng đã theo dõi sát sao sự hội tụ của CNTT và TĐH và đã bước vào lĩnh vực TĐH công nghiệp. CISCO hy vọng, sự kết nối giữa mạng IT và mạng điều khiển tại phân xưởng sẽ mang lại nhiều lợi ích. Các thiết bị I/O thông minh (The intelligent I/O)Các đầu đo và cơ cấu chấp hành hiện nay được kết nối với các thiết bị xử lý trung tâm như PCs, PLC, DCS và phần lớn tính toán, xử lý đều do các thiết bị xử lý trung tâm này đảm nhiệm. Với sự phát triển của công nghệ, giá thành của các chip vi xử lý và bộ nhớ giảm đáng kể, cho phép dịch chuyển phần trí tuệ từ các PCs, PLC, DCS vào các đầu đo, cơ cấu chấp hành, tạo ra các thiết bị I/O thông minh. Các thiết bị I/O thông minh sẽ được trang bị các cảm biến và các chip vi xử lý mạnh để có thể có khả năng nhận biết điều kiện hoạt động, khả năng xử lý, suy diễn, khả năng hội thoại qua mạng và ra quyết định tối ưu cho các tình huống phức tạp. Ngoài ra, các thiết bị I/O còn có khả năng tự chẩn đoán để cảnh báo trước các hỏng hóc có thể xảy ra và cung cấp các thông tin cần thiết cho công việc bảo hành, bảo trì. Khả năng chẩn đoán sẽ là một phần quan trong trọng các thiết bị mới. Công nghệ tự chẩn đoán sẽ tiếp tục mang lại thu nhập cho các hãng sau khi bán hàng. Các hãng dịch vụ sửa chữa, bảo hành hệ thống cũng cần các công nghệ chẩn đoán này để có thể bảo hành, sửa chữa được hệ thống. Hội thoại giữa các thiết bị: M2M (Machine-to-Machine communication)Khi các thiết bị được kết nối qua các loại mạng (mạng cảm biến không dây, mạng công nghiệp, Internet) có thể hội thoại được với nhau sẽ cho nhiều cơ hội, nhiều ứng dụng mới. Các hãng chế tạo có thể sử dụng các sản phẩm được kết nối mạng để phát triển hệ thống phục vụ công tác quản lý khách hàng tạo nên lợi ích mới cho cả khách hàng và của chính mình. Các sản phẩm hoạt động trong hệ thống duy trì việc cung cấp và trao đổi thông tin về tình trạng của mình sẽ tạo ra nhiều dịch vụ mới (trên cơ sở có các thông tin chính xác và kịp thời) mà trước đây không thể có được. Các hãng phần mềm sẽ tạo ra các công cụ xử lý dòng dữ liệu lớn và trích lọc các thông tin hữu ích từ khối lượng dữ liệu đồ sộ cung cấp từ các thiết bị kết nối mạng. M2M sẽ mang lại lợi ích cho cả người bán và người mua thiết bị, làm tăng hiệu quả quản lý thiết bị, giảm chi phí và tăng chất lượng dịch vụ. M2M sẽ thúc đẩy tăng trưởng sản xuất trong những năm tới. Sự ra đi của PLC, DCS và hệ điều khiển phân cấp Trong thời gian tới, các máy tính PC công nghiệp hoặc các hệ nhúng với khả năng lập trình ngôn ngữ bậc cao và khả năng kết nối hội thoại với giá thành thấp sẽ thay thế chức năng của PLC ở hầu hết các ứng dụng (ngoại trừ các ứng dụng rất nhỏ). Một phần chức năng điều khiển của PLC sẽ được chuyển cho các thiết bị I/O thông minh. Các hệ DCS và điều khiển phân cấp sẽ dần tỏ ra không hiệu quả. Các phần mềm điều khiển trung tâm sẽ ngày càng cồng kềnh và trở nên không kiểm soát nổi khi số lượng đầu đo, thiết bị giao diện và cơ cấu chấp hành kết nối trong hệ thống tăng lên. Hiện nay, đã có nhiều quá trình công nghệ hoạt động với độ kết nối 50 - 100.000 điểm I/O hoặc hơn thế. Với độ phức tạp lớn như vậy, các hệ thống DCS, điều khiển phân cấp sẽ không có khả năng xử lý kịp và sẽ phải ra đi, nhường đường cho một cấu trúc hệ thống mới là hệ tự thích nghi phức hợp CAS (Complex Adaptive Systems). Hệ tự thích nghi phức hợp CAS (Complex Adaptive Systems)Hệ tự thích nghi phức hợp CAS là hệ thống kết nối các thiết bị I/O có khả năng hội thoại trực tiếp với nhau và tự ra quyết định cục bộ để điều khiển hệ thống mà không cần sự can thiệp của máy chủ. Các quyết định cục bộ dựa trên thông tin toàn cục thu thập từ các thiết bị I/O sẽ tạo nên một hệ thống quyết định toàn cục thay thế các máy chủ xử lý trung tâm trong các hệ DCS. Ngoài ra, các hệ CAS hoạt động tin cậy do được thiết kế có độ dự phòng cao và không phụ thuộc vào một hoặc một vài lỗi xảy ra trong hệ thống. Số kết nối giữa các điểm I/O càng lớn thì hiệu quả của hệ CAS càng cao theo nguyên lý Melcalfe (hiệu quả của hệ thống mạng sẽ tăng theo hàm mũ của số nút kết nối trong mạng). Cơ sở của hệ thống CAS bắt nguồn từ mô phỏng sự hoạt động của sự sống. Các dự báo cho thấy, khả năng ứng dụng của các hệ CAS trong điều khiển quá trình và TĐH công nghiệp sẽ diễn ra trong thập kỷ tới. Khái niệm phần mềm sẽ thay đổiSang thập niên tới, khái niệm phần mềm hiện nay sẽ ra đi. Phần mềm sẽ được nhúng trong thiết bị và không còn là một phần mềm tách biệt như hiện nay. Tương lai chỉ còn phần mềm nằm trong trình duyệt. Các phần mềm khác đều dưới dạng các objects nằm ở trong các sản phẩm được server kích hoạt khi kết nối. Các phần mềm MMI (Man Machine Interface) hiện nay trong các hệ SCADA cũng sẽ ra đi. Một số chức năng sẽ chuyển xuống thành các phần nhão (firmware) trong thiết bị I/O thông minh. Một phần sẽ được tích hợp vào hệ thống lập kế hoạch sản xuất MRP (Manufacturing Resource Planning) hoặc hệ thống thừa hành sản xuất MES (Manufacturing Execution System). Các dịch vụ an toàn mạngVấn đề an toàn cho mạng công nghiệp sẽ là một vấn đề lớn cần giải quyết và cũng là cơ hội tạo ra các dịch vụ mới cho các doanh nghiệp TĐH trong thời gian tới. Các hệ thống tự động điều khiển phổ biến hiện đang sử dụng máy tính với hệ điều hành Windows và kết nối mạng Ethernet TCP/IP. Khi các mạng TĐH này được kết nối Internet, thì các virus có thể xâm nhập và phá hoại hoạt động của toàn hệ thống đo và điều khiển. Mạng TĐH cần loại bỏ triệt để các tác động này bằng các công cụ routers và bức tường lửa đặc thù phục vụ cho từng ứng dụng cụ thể. Vấn đề an toàn cho hệ thống TĐH đã trở thành vấn đề cấp bách, thậm chí là một vấn đề đáng báo động. Các dịch vụ và giải pháp hiệu quả cho vấn đề an ninh mạng tự động sẽ có tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới. Các sản phẩm TĐH ngày càng thông dụng như hàng hóa tiêu dùngDo sự phát triển của công nghệ và chi phí cho sản xuất giảm nên giá thành của các sản phẩm TĐH không còn đắt như trước. Các sản phẩm TĐH không còn tính cá biệt mà ngày càng trở nên thông dụng như các hàng hóa tiêu dùng. Cơ hội và thách thức đối với lĩnh vực TĐH của Việt NamTình hình phát triển công nghệ TĐH ở nước ta hiện nayQuá trình công nghiệp hoá, hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay đang tạo nên thị trường lớn cho lĩnh vực TĐH. Trong sản xuất, nhiều nhà máy mới, trang bị các dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại, nhiều cơ sở nâng cấp, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới đều tạo nên nhu cầu áp dụng các sản phẩm và hệ thống điều khiển tự động. Trong lĩnh vực dịch vụ và hiện đại hóa các ngành kinh tế quốc dân như giao thông vận tải, truyền thông, thương mại, y tế, giáo dục…, các trang thiết bị đo lường, điều khiển, tự động được sử dụng ngày càng nhiều. Tóm lại, thị trường các sản phẩm và dịch vụ TĐH ngày càng tăng. Mặc dù chi phí cho các sản phẩm và hệ thống TĐH trong dây chuyền sản xuất chỉ chiếm 5-10% tổng chi phí, nhưng nó là thành phần đầu não, cốt lõi của cả dây chuyền sản xuất. Thiếu nó, dây chuyền sản xuất sẽ dừng hoặc cho ra các sản phẩm không đảm bảo chất lượng. Tuy thị trường TĐH ở Việt Nam đang phát triển nhưng phần lớn thị trường này lại do các hãng TĐH nước ngoài chi phối. Tỷ lệ các sản phẩm và dịch vụ TĐH của các doanh nghiệp Việt Nam chiếm phần nhỏ. Nguyên nhân là do ngành công nghiệp chế tạo các sản phẩm và hệ thống TĐH của ta còn chưa hình thành và các công ty Việt Nam làm các dịch vụ (tích hợp hệ thống, bảo hành, bảo trì...) cũng chỉ mới đủ năng lực làm các hệ thống nhỏ hoặc bảo trì các hệ thống lớn dưới sự chỉ đạo của các chuyên gia nước ngoài.Một lý do làm sự phát triển công nghệ TĐH của Việt Nam không mạnh là sự thiếu hụt đội ngũ nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới ở các cơ sở sản xuất. Một khi các cơ sở sản xuất không tiến hành việc thiết kế, chế tạo và cải tiến chỉ tiêu chất lượng các sản phẩm của mình, thì thiếu hẳn động lực phát triển cho công nghệ nói chung và công nghệ TĐH nói riêng. Mặt khác, các viện nghiên cứu công nghệ của nước ta hiện nay ít nhiều còn xa rời với thực tiễn sản xuất và chưa gắn bó hữu cơ với thị trường nên không tạo nên sức phát triển tổng hợp. Về đào tạo, nhân lực TĐH đã có nhiều bước phát triển đáng kể trong thời gian qua, do nhu cầu nhân lực TĐH tăng trong các cơ sở sản xuất. Kỹ sư tốt nghiệp trong lĩnh vực đo, điều khiển, TĐH dễ kiếm việc làm và không bị thất nghiệp như trong lĩnh vực CNTT. Có được kết quả này là do việc đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên thuộc lĩnh vực TĐH hiện nay đã gắn kết nhiều hơn với các thí nghiệm, các trang thiết bị, các sản phẩm và hệ thống điều khiển được ứng dụng trong công nghiệp như đầu đo, cơ cấu chấp hành, PLC, SCADA, DCS, các mô hình dây chuyền sản xuất… Tuy nhiên, các kỹ sư TĐH được đào tạo khi về các cơ sở sản xuất thường làm các công việc bảo hành, bảo trì hệ thống đo và điều khiển dây chuyền công nghệ ít có điều kiện tham gia phát triển sản phẩm hoặc thiết kế hệ thống điều khiển mới. Điều này làm cho kiến thức của các kỹ sư sau khi ra trường ít được cập nhật và phát triển. Hệ quả làm giảm sức sống, sức phát triển của lĩnh vực công nghệ TĐH nước nhà. Cơ hội Một là, do sự phát triển của chuỗi cung ứng toàn cầu, nhiều công việc ở các nước phát triển (cả về cơ bắp lẫn chất xám) được phân nhỏ và có thể được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Như vậy, cơ hội có nhiều việc làm cho lĩnh vực TĐH trong sản xuất và dịch vụ, trong lao động chân tay (lắp ráp…) và lao động trí óc (thiết kế, tư vấn, lập trình…) ngày càng lớn. Xuất phát từ giá nhân công rẻ cũng như lợi thế vị trí trong các thị trường bản địa và với sự phát triển của Internet, các tiêu chuẩn toàn cầu, chúng ta có nhiều cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng các sản phẩm có uy tín trên thế giới. Nếu đội ngũ nhân lực của ta được đào tạo đạt các chuẩn mực quốc tế thì cơ hội có được nhiều việc làm với các công nghệ hàng đầu thế giới, có thu nhập cao là rất hiện thực. Hai là, trong thế giới phẳng hiện nay, vấn đề quảng bá và bán sản phẩm, dịch vụ ra toàn cầu dễ dàng và nhanh chóng. Do vậy, với bất cứ một sản phẩm và dịch vụ nào có tính cạnh tranh cao đều có thể tham gia thị trường toàn cầu. Mặt khác, sau khi Việt Nam gia nhập WTO công nghệ mới cũng dễ chuyển giao từ các nước tiên tiến vào trong nước. Với các ý tưởng mới, các sản phẩm mới của Việt Nam sẽ được sản xuất trên công nghệ cao của nước ngoài có cơ hội lớn xâm nhập rộng rãi thị trường toàn cầu.Ba là, chúng ta có cơ hội học hỏi từ thành công cũng như thất bại của các nước đi trước trong việc tiếp thu công nghệ và đón đầu tạo ra các sản phẩm mới trong các hướng phát triển của công nghệ TĐH. Có thể cải tiến các sản phẩm hiện tại bằng việc thêm các chức năng xử lý hoặc thêm phần hồn, tạo ra các đồ dùng thông minh. Các sản phẩm kết nối mạng không dây công nghiệp, các sản phẩm thông minh có khả năng tự chẩn đoán hỏng hóc, có khả năng hội thoại với các máy móc khác, các hệ thống tự động có độ an toàn mạng cao… là các sản phẩm tiềm năng cho giai đoạn tới. Với đầu óc sáng tạo, tính cần cù và ham học hỏi của người Việt Nam, chúng ta có cơ hội tạo ra các sản phẩm có các chức năng vượt trội trên mặt bằng công nghệ toàn, cầu ví dụ như tạo ra các chip chuyên dụng với khả năng xử lý phức tạp. Thách thức Một là, sự cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ TĐH trên thế giới ngày càng khốc liệt. Với chiến lược lấy công làm lãi, các sản phẩm của Trung Quốc có giá thành rất rẻ, với chất lượng không thua kém sản phẩm của các nước phát triển. Đây là một thách thức rất lớn, đòi hỏi các sản phẩm và dịch vụ TĐH của Việt Nam phải vượt qua. Do mặt bằng công nghệ và giá vật tư là gần như nhau trên toàn cầu nên sức cạnh tranh thể hiện ở phần chất xám và lãi trong cấu thành giá của sản phẩm. Phần lãi ròng của các sản phẩm của các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản thường là 10-15%, giá trị sản phẩm, của các nước đang phát triển là 5-10%, còn của Trung Quốc rất thấp từ (dưới 2%). Như vậy, muốn cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc chúng ta chỉ còn cách đầu tư vào phần chất xám của sản phẩm, hay nói cách khác là sản phẩm phải có các chức năng vượt trội hơn, được thiết kế và phát triển với đội ngũ chuyên gia giỏi nhưng với giá thành cạnh tranh hơn, chi phí cho công sản xuất và lưu thông hợp lý hơn.Hai là, đội ngũ chuyên gia TĐH của chúng ta mặc dù đã tiếp cận được các công nghệ TĐH tiên tiến trên thế giới, nhưng còn bị hạn chế rất nhiều trong việc nghiên cứu, thiết kế và phát triển các sản phẩm, dịch vụ TĐH mới. Ta cũng còn ít các nhóm, công ty tư vấn chuyên nghiệp về lĩnh vực TĐH đủ trình độ tham gia các gói thầu lớn quốc tế.Ba là, ngành công nghiệp chế tạo các sản phẩm công nghệ cao nói chung và các sản phẩm TĐH nói riêng của Việt Nam còn rất non trẻ. Đây là một thách thức không nhỏ cho sự phát triển của công nghệ TĐH nước nhà. Thiếu sự hỗ trợ của công nghiệp chế tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ, chúng ta bỏ lỡ các cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Mặt khác, nó còn làm các sản phẩm sáng tạo của Việt Nam kém sức cạnh tranh do phải phụ thuộc vào việc thuê gia công ở nước ngoài, làm chậm quá trình phát triển và sự lớn mạnh của lĩnh vực công nghệ TĐH nước nhà.Bốn là, sự phát triển của các nước đông dân như Trung Quốc và Ấn Độ trong giai đoạn tới tạo nên áp lực rất lớn về việc làm cho nguồn nhân lực trong lĩnh vực TĐH của Việt Nam. Với quá trình tự do hóa thương mại và dịch vụ toàn cầu, Trung Quốc và Ấn Độ không chỉ dễ dàng lấy các “việc thuê ngoài” trong lĩnh vực TĐH của các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản mà còn có thể lấy đi các cơ hội công ăn việc làm trong lĩnh vực TĐH ngay tại thị trường Việt Nam. Do vậy, chúng ta cần phải tạo ra được các lợi thế cạnh tranh chuyên sâu để có thể vượt qua được thách thức này. Một số giải pháp Thứ nhất, chúng ta phải nỗ lực hết sức mình để có thị trường cho sản phẩm và dịch vụ TĐH Việt Nam. Điều mà cộng đồng người Việt có thể làm được là người Việt Nam, doanh nghiệp và các tổ chức của Việt Nam ở trong và ngoài nước hãy sử dụng sản phẩm và dịch vụ TĐH của Việt Nam.Thứ hai, trong nền kinh tế tri thức, con người là yếu tố quyết định sự thành bại. Do vậy, chúng ta cần xây dựng đội ngũ nhân lực TĐH ngang tầm quốc tế. Điều này chỉ có thể có nếu giới trẻ Việt Nam vươn lên học hỏi kiến thức nhân loại không mệt mỏi.Thứ ba, sự cạnh tranh trong tương lai là sự cạnh tranh của các ý tưởng sáng tạo mới. Do vậy, cần liên tục phát triển năng lực sáng tạo của cộng đồng TĐH nước nhà. Nhà nước và doanh nghiệp phải có chiến lược duy trì đầu tư để mỗi doanh nghiệp định kỳ ít nhất cho ra một sản phẩm mới hay một dịch vụ mới. Điều này tạo nên làn sóng sáng tạo trên toàn quốc, làm động lực cho phát triển nền kinh tế tri thức, trong đó có sự phát triển của công nghệ TĐH nước nhà.Thứ tư, trong thế giới phẳng, Việt Nam cần phải tham gia ngày càng sâu rộng trong các chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhà nước, doanh nghiệp và mỗi chuyên gia hãy tìm mọi biện pháp để xuất khẩu được sản phẩm và dịch vụ TĐH của mình, tập thể mình, đất nước ta ra toàn cầu. Đây là chiến lược phát triển thị trường không thể không nằm trong sự cạnh tranh khốc liệt của các nền kinh tế thế giới hiện nay. Nguồn tin: Tạp chí Hoạt động khoa học
Nguồn tin từ : Quản trị Website Các tin mới hơn : Các thành tích trong nghiên cứu cơ bản của các đơn vị trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam trong năm 2008 (thứ hai, 9/2/2009) 4 công trình đoạt giải Khoa học-Kỹ thuật thanh niên năm 2008 (thứ sáu, 9/1/2009) 10 đột phá khoa học và công nghệ 2008 (thứ năm, 25/12/2008)
Các tin cũ hơn : Vì sự phát triển Phụ nữ trong nghiên cứu khoa học (thứ hai, 1/12/2008) Một vấn đề khẩn cấp của Việt Nam: Ngăn chặn nạn chảy máu chất xám (thứ hai, 13/10/2008) 10 công nghệ thân thiện với môi trường của tương lai (thứ sáu, 3/10/2008) Hội nghị hướng dẫn Nghị định 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ (thứ sáu, 29/8/2008) Cải cách khoa học kỹ thuật (thứ sáu, 29/8/2008)
|